11 tháng 4, 2011

Các viêm nhiễm tại mi mắt


Mi mắt là bộ phận che chắn và bảo vệ nhãn cầu, thế nhưng bản thân chúng lại bị các tác nhân gây bệnh tấn công dữ dội. Vì vậy các bệnh nhiễm trùng và viêm tại chỗ của mi mắt cũng thật đa dạng. Triệu chứng bệnh thì có giảm nhưng những hệ lụy mà nó đem lại thật nguy hiểm khôn lường: bội nhiễm nấm, vi khuẩn, glôcôm do dùng cortizol kéo dài, đục thể thuỷ tinh...


Chúng ta hãy cùng nhau nhìn nhận nhóm bệnh lý này như một cố gắng nâng cao chất lượng cuộc sống chứ không phải là một cuộc chiến sống còn như đối với những căn bệnh gây mù loà khác như đục thể thuỷ tinh hay glôcôm. Trong số chúng ta, ai cũng đã từng ít nhất một lần bị lên chắp, lên lẹo. Có thể thấy rằng tỷ lệ mắc của nhóm bệnh này thực sự không hề nhỏ.Có chăng là chúng bị xem thường bởi chúng không gây mù loà, không gây chết người; thế nhưng, những khó chịu mà chúng gây ra cho bệnh nhân, lượng thuốc men mà vì nó người bệnh hao tiền tốn của, lại không thể xem thường. Hơn thế nữa, nhiều người còn tự mua thuốc hoặc mách bảo nhau dùng những thuốc có chứa cortizol kéo dài vô tội vạ.

Về phương diện giải phẫu, một người bình thường sẽ có 4 mi: 2 mi trên và 2 mi dưới. Mỗi mi đều có chung những đặc tính sau: chúng tiếp giáp với da mặt, trên bờ tự do đều có lông mi, chúng tạo nên các phần giới hạn của khe mi. Cấu trúc của mỗi mi, từ nông vào sâu, bao gồm:

- da mi

- tổ chức chun giãn dưới da

- bình diện cơ: cơ vòng mi và cơ nâng mi

- tổ chức mô bào

- diện sợi trắng, đậm đặc hay còn gọi là diện sụn, nó được ví như là khung xương cho mi

- sau cùng và sâu nhất là kết mạc mi, kết mạc mi liên tiếp với kết mạc nhãn cầu

Trong sụn mi có tuyến Meibomius, là những tuyến tiết bã nhờn đổ ra bờ tự do của mi. Các lỗ ra của tuyến này nằm ngay sau chân lông mi. Các chất tiết của tuyến này có vai trò quan trọng tới sự bình ổn và chất lượng của phim nước mắt.

Về phương diện bệnh học, các tác giả Anh, Mỹ chia các bệnh viêm nhiễm tại mi làm 4 nhóm chính: lẹo, chắp, viêm phần trước mi (viêm bờ mi), viêm phần sau mi (viêm và loạn năng tuyến Meibomius).

Thế nào là viêm mi? Đó là tất cả những viêm nhiễm có liên quan đến mi. Người ta cố gắng phân biệt hình thái của viêm mi: mạn tính lan toả hay viêm mi mạn tính khu trú (chắp, lẹo)

Những dấu hiệu của viêm mi mạn tính: Bệnh nhân thường than phiền về cảm giác nóng rát trong mắt, cộm như có cát ở trong mắt, chảy nước mắt, đau mức độ trung bình tại mắt và mi, đôi khi bệnh nhân cảm giác nhìn mờ, nhất là vào buổi sáng. Khi thăm khám lâm sàng, chúng ta thấy bờ mi đỏ, quanh chân lông mi có nhiều chất bẩn và vảy tiết, kèm theo đó là tình trạng giãn mao mạch dọc theo phần trước của bờ tự do. Các lỗ ra của tuyến giãn rộng và nhiều chất bã nhờn. Cũng có thể có tình trạng bài tiết các chất bọt. Thường thì viêm bờ mi sẽ đi kèm với viêm kết mạc, gọi là viêm bờ mi - kết mạc.

Những yếu tố gây bệnh: Có rất nhiều yếu tố khả dĩ gây viêm mi, có thể là do ta vệ sinh kém hay bội nhiễm các vi khuẩn gây bệnh trong các vật dụng hàng ngày như mùi xoa chẳng hạn. Cũng có thể là các yếu tố môi trường như bụi, ô nhiễm, sử dụng máy điều hoà, hay các yếu tố bất lợi tại mắt sẵn có như khô mắt, đái tháo đường, vảy nến. Nên lưu ý, chính thày thuốc cũng có thể góp phần gây viêm bờ mi cho bệnh nhân khi dùng các nội tiết tố như oetrogene, androgene, hay điều trị tia xạ kéo dài

Có một vài nguyên nhân đặc hiệu gây viêm bờ mi. Trong đó phải kết đến tụ cầu, một vài loại ký sinh trùng như nấm hay demodex. Viêm mi do tụ cầu thường gây chắp hay lẹo sau đó, loét trợt bờ mi, nặng hơn có thể gây viêm giác mạc ở diện 1/3 dưới.

Những dạng viêm bờ mi phần sau và mạn tính:

Về cơ bản gồm: viêm mi tăng tiết bã nhờn, loạn năng tuyến Meibomius và một bệnh hiếm gặp khác - bệnh trứng cá đỏ.

- Bệnh viêm mi tăng tiết bã nhờn: chính tên bệnh đã phản ánh bản chất của nó. Thường là bệnh thứ phát trên cơ địa viêm da tăng tiết bã nhờn. Các tổn thương tại da: ban đỏ và đóng vảy ở chân tóc và vùng mặt thường có trước những tổn thương tại mi. Các yếu tố thuận lợi cho bệnh phát triển đó là khí hậu lạnh, nghiện rượu, bệnh lý thần kinh, tình trạng stress hay AIDS. Tiến triển của viêm mi thường song song với tình trạng tổn thương ở da (thoái triển hoặc kịch phát).

- Bệnh trứng cá đỏ: trứng cá đỏ gây phiền toái cho khoảng 10% dân số thế giới, trong đó 50% có biểu hiện tại mắt. Các yếu tố khơi mào cho bệnh phát triển có thể là nhiệt độ bất thường (quá nóng hoặc quá lạnh), da sáng màu, ăn nhiều gia vị hoặc các chất cay, nóng, bia, rượu, thuốc lá... Những biểu hiện của bệnh trứng cá đỏ rất đa dạng: viêm mi, phình giãn mao mạch ở bờ mi, đa chắp tái phát, kết mạc cương tụ, viêm thượng củng mạc, tân mạch giác mạc, mụn nước và loét bờ mi. Trứng cá đỏ thường đi kèm với loạn năng tuyến Meibomius.

- Viêm mi do loạn năng tuyến Meibomius: tuyến Meibomius là một tuyến ngoại tiết mà các lỗ mở ra bờ tự do của mi, phía sau các chân lông mi. Chức năng của nó: tạo ra lớp lipid của phim nước mắt, lớp này có tác dụng chống bay hơi cho phim nước mắt và quyết định chất lượng của phim nước mắt. Viêm, nhiễm trùng, quá mẫn cảm là những yếu tố có thể thay đổi chất lượng của phim nước mắt và cũng là nguyên nhân viêm bờ mi.

Hậu quả của viêm bờ mi:

Chủ yếu là cảm giác khô rát mắt. Nguyên nhân của hiện tượng này là do nước mắt bị bay hơi quá nhanh do lớp mỡ của phim nước mắt có chất lượng kém - một hệ quả tất yếu của loạn năng tuyến Meibomius.

Cách điều trị:

Như phần đầu chúng ta đã nói, viêm bờ mi có xu hướng mạn tính và kèm theo nó là các biến chứng tiêm tàng và khó tránh khỏi. Điều trị sẽ giúp chúng ta kiểm soát tình hình chứ gần như không thể khỏi hoàn toàn được. Phương pháp điều trị bao gồm: vệ sinh cá nhân, chủ yếu là rửa tay, dùng khăn lau loại một lần, massage nhiều lần trong ngày lên bờ mi có dùng găng tay và gạc chườm nóng hoặc dùng gel đặc trị đánh lên bờ mi bằng tăm bông. Các biện pháp trên chủ yếu để dẫn lưu tuyến Meibomius.

Điều trị bằng kháng sinh tại chỗ hoặc đường toàn thân đôi khi rất hữu ích. Các kháng sinh được khuyên dùng thuộc nhóm Tetracycline và Oxytetracycline như mỡ tetracycline, mỡ posicycline và nhóm Sunfamide như Bacitracine.

Chắp có biểu hiện như thế nào?

Đó là một khối u lành tính trên mi. Chắp chính là vùng sưng phồng xuất hiện ngay trên vùng bị tắc nghẽn các ống tuyến Meibomius. Trên lâm sàng, chắp biểu hiện như một khối tròn nhỏ, sưng đỏ. Vị trí thường ở ngay sát bờ tự do của mi. Chắp có 3 hình thái lâm sàng: ở phía trong, ở phía ngoài và ngay trên bờ tự do. Tiến triển của chắp có thể theo nhiều hình thức:

- nang hoá, gây khó chịu cho mắt và bắt buộc phải chích tháo mủ

- hoá mủ và áp-xe hoá

- tự vỡ mủ hoặc dò mủ ra ngoài da

- tự khỏi

Dù là tiến trình nào thì chắp cũng có thể tái phát. Điều trị thường là chườm nóng, dùng kháng sinh kết hợp với corticoide tại chỗ trong 7 ngày. Có tới 50% các trường hợp phải giải quyết bằng thủ thuật ngoại khoa, khi chắp đã ở giai đoạn “nguội”- ngoài giai đoạn viêm cấp.

Còn lẹo thì sao?

Đó là hiện tượng viêm cấp của tuyến bã quanh chân lông mi - tuyến Zeiss, tuyến lệ phụ ở chân các lông mi hướng ra phía bờ mi - tuyến Moll. Nguyên nhân thường do tụ cầu. Ban đầu chỉ là phù mi rồi thì xuất hiện một ổ sưng, đỏ và rất đau khi chạm vào. Sau vài ngày cảm giác đau sẽ trở thành cảm giác nhức buốt kèm theo sự hoá mủ vàng tại chân lông mi. Những khó chịu này sẽ biến mất nếu lẹo vỡ mủ và thoát ra ngoài cùng với lông mi. Điều trị thường bằng chườm nóng, mỡ kháng sinh có phối hợp với corticoide trong 48h đầu. Sau đó chỉ định chích tháo mủ sẽ được xem xét. Những trường hợp nặng có phù nề mạnh, phản ứng viêm hạch lân cận thì bắt buộc phải dùng kháng sinh đường uống. Để đề phòng lẹo thì chỉ có một cách là vệ sinh bờ mi thật tốt.

Bs.Ths. Hoàng Cương

Đọc tiếp →

Viêm bờ mi mắt

Tỷ lệ bệnh nhân (BN) bị viêm bờ mi đến khám mắt hiện nay tương đối cao tuy chưa có con số thống kê cụ thể, nhưng dựa vào số lượng thực tế tại các phòng khám cho thấy số BN viêm bờ mi mắt chiếm gần 1/3 số lượng BN đến viện khám, với triệu chứng chủ yếu là ngứa mắt. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng chủ yếu gặp ở người trẻ. Bệnh thường kéo dài và khó chữa.

Nguyên nhân gây bệnh

Vệ sinh mắt không sạch sẽ: Dùng nước bẩn để rửa mặt, khăn bẩn để lau mặt. Tác nhân gây bệnh thường gặp là nấm, vi khuẩn (liên cầu, tụ cầu…), ký sinh trùng (demodex).

Biến chứng của bệnh mắt hột gây viêm bờ mi, thường gặp ở vùng biển, đồng chiêm trũng, những vùng còn dùng nước ao hồ sông suối làm nước sinh hoạt hàng ngày.

Người ta cũng nhấn mạnh vai trò của thể trạng BN đối với bệnh như: BN có thể trạng gầy yếu, thiếu vitamin, thiếu máu, mắc các bệnh đường tiêu hóa mạn tính (táo bón, viêm ruột…) các bệnh nội tiết (đái tháo đường…) BN có cơ địa dị ứng…

Ngoài ra cũng phải kể đến vai trò của các yếu tố nguy cơ thuận lợi cho bệnh phát sinh và phát triển như: Gió, bụi, ánh sáng, khói, hóa chất, mỹ phẩm… nhất là tình trạng môi trường ô nhiễm như hiện nay.

Các hình thái thường gặp

Viêm đỏ bờ mi: Là loại viêm bờ mi đơn thuần, hình thái này thường nhẹ. BN thấy ngứa mắt kèm theo có cảm giác cộm như có bụi trong mắt, chớp mắt liên tục và có chất tiết màu trắng ở 2 góc trong và ngoài mắt.

Viêm bờ mi có vẩy: BN ngứa nhiều và thường xuyên, ngứa làm BN day dụi chà sát nhiều lên mi mắt, có BN còn diễn tả ngứa chỉ muốn cào rách mắt ra, nhất là sau khi tiếp xúc với môi trường bụi bặm, ánh sáng…

Bờ mi đỏ và dày lên: Da vùng chân lông mi có vảy nhỏ màu trắng xám, khô (giống như “gầu” ở da đầu). Nếu cạy lớp vảy này đi sẽ thấy lộ ra một lớp da mỏng đỏ nhưng không chảy máu.

Viêm loét bờ mi: Hình thái này nặng và kéo dài dai dẳng. BN ngứa mắt rất nhiều, day dụi mắt nhiều làm trợt cả da mi, thường sợ phải tiếp xúc với gió, bụi, ánh sáng…

Bờ mi sưng đỏ, phù dày lên: Dọc bờ mi và chân lông mi có những đám mủ màu vàng khô làm cho lông mi dính thành đám. Khi lấy những đám mủ này ra thường làm rụng nhiều lông mi và để lại những đám loét nhỏ rớm máu. Ở những chỗ lông mi rụng bờ mi dày lên sù sì và lông mi sẽ không mọc lại.

Khi viêm bờ mi không được điều trị, quá trình viêm kéo dài dai dẳng có thể dẫn đến những biến chứng như: Viêm kết mạc, viêm đường lệ đạo (đường dẫn nước mắt), lông siêu, lông quặm…

Phương pháp điều trị

Tại chỗ: Nếu có điều kiện nên lấy chất tiết hoặc chất nạo bờ mi tìm nguyên nhân gây bệnh để dùng thuốc đặc hiệu điều trị triệt để là tốt nhất.

Đối với hình thái viêm đỏ bờ mi và viêm bờ mi có vảy
Rửa sạch bờ mi bằng cồn 70 độ.
Bóc vẩy bờ mi (nếu có).
Nặn bờ mi cho ra hết chất tiết, mủ bờ mi.
Rửa sạch bờ mi bằng cồn 70 độ hoặc dung dịch xanhmethylen 1%.
Bôi mỡ kháng sinh Tetracylin 1% hoặc tra sunfat kẽm 1%.
Đối với hình thái viêm loét bờ mi
Bóc vẩy mủ ở bờ mi.
Rửa sạch bờ mi bằng cồn 70 độ hoặc xanhmethylen 1%.
Bôi mỡ kháng sinh 4 lần một ngày. Thường dùng mỡ tetracylin, mỡ oxy tetracylin…

Điều trị toàn thân: Điều trị các bệnh toàn thân mạn tính có liên quan (nếu có): Viêm nhiễm mạn tính đường tiêu hóa, đái tháo đường…
Nâng cao thể trạng: Vitamin A, dầu gan cá thu, vitamin 3B…

Phòng bệnh

Vệ sinh nơi ăn chốn ở sạch sẽ, vệ sinh ăn uống để tránh các bệnh tiêu hóa như táo bón, viêm ruột…
Vệ sinh mắt sạch sẽ: Dùng nước sạch khăn sạch để rửa mặt, đeo kính bảo vệ mắt tránh các yếu tố kích thích như gió, bụi, ánh sáng, dị vật…

Theo Sức khỏe & Đời sống

Đọc tiếp →

Các viêm nhiễm của mi mắt

1. Viêm bờ mi.
1.1. Đại cương.
Viêm bờ mi là một bệnh rất hay gặp, gây nhiều khó chịu cho bệnh nhân, việc điều trị đôi khi khó khăn, dai dẳng vì xác định nguyên nhân khó hoặc viêm do nhiều nguyên nhân phối hợp gây ra.
Bệnh thường có một vòng luẩn quẩn gây bệnh với:
- Viêm bờ mi.
- Bất hoạt tuyến Meibomius.
- Khô mắt.
Các bệnh này tương tác với nhau rất khó chữa trị. Nước mắt ít sẽ không loại bỏ được những cặn viêm bờ mi, những cặn viêm này lại tạo nên viêm.
1.2. Bệnh nguyên:
Các nguyên nhân chính gây bệnh gồm:
1. Vi sinh vật: Hay gặp nhất là các chủng Staphylococcus, các tác nhân khác gồm: Các vi khuẩn lao, giang mai, Chlamydia, virus (Moluscum contagiosum, HSV, VZV). Nấm (Candida, Coccidioidomycosis, Blastomycosis…) ký sinh trùng (rận bẹn – Phthirus pubis, Onchocerciasis…).
2. Lớp lipid của film nước mắt bị thay đổi: Có sự bất thường của những loại lipid cực làm mất ổn định film nước mắt (dễ huỷ).
3. Bệnh trứng cá đỏ (Rosacea): Có sự viêm tuyến do vi khuẩn, vi khuẩn tiết ra men làm tan mỡ gây mất ổn định màng film nước mắt.
1.3. Một số loại viêm bờ mi thường gặp.
1.3.1. Viêm mi do tụ cầu (Staphylococcal blepharitis):
- Là loại viêm bờ mi hay gặp nhất: Nhiễm Staphylococcus aureus ở mi mắt là một nguyên nhân quan trọng của viêm mi, kết mạc và giác mạc.
- Thường gặp ở nữ giới (80%) và những người trẻ.
Lâm sàng: Cảm giác nóng (burning), ngứa (itching) và rát da (irritation) đặc biệt vào buổi sáng, dính hai mi vào buổi sáng.
- Vị trí: Viêm ở phần trước mi.
- Có thể gây viêm bờ mi vùng góc mắt (angular blepharitis) với đặc điểm đỏ, ướt, nứt nẻ và đóng vảy ở góc ngoài, góc trong hoặc cả hai góc mắt (toét mắt) thường kèm viêm kết mạc nhú gai, đôi khi có tiết tố nhầy mủ (macopurulent discharge) và tiết tố dính (adherent exudate).
- Trong thời kỳ cấp tính: Có loét và xuất huyết bờ mi.
- Thể viêm mãn tính điển hình: Có những vẩy cứng, giòn ở gốc lông mi, bằng mắt thường đôi khi chỉ thấy những vẩy trắng. Khi khám bờ mi bằng sinh hiển vi thấy vẩy cứng bao quanh mỗi lông mi.
Đặc điểm: Khi những vẩy này bao quanh lông mi, chúng trông như cổ áo hay cái dù (vẩy như một đĩa tròn, lông mi xuyên qua như một cái ô). Bờ mi khô dày, đỏ, lông mi có thể bết lại với nhau thành từng búi.
* Lông mi thường bạc, ngắn, gãy, rụng lông và mọc lệch hướng. Có thể có quặm hoặc mất lông mi do tổn thương nang lông. Bạc từng lông mi riêng rẽ (poliosis) xuất hiện do tổn thương gốc lông do tụ cầu.
* Chắp ngoài là một áp xe của tuyến Zeiss ở phía trước mi có sưng, đỏ, đau. Chắp trong là nhiễm trùng trong tuyến Meibomius ở phần sau mi, gây đau, nó có thể vỡ ra ngoài da hoặc vào trong kết mạc.
* Khô mắt gặp ở 50% bệnh nhân viêm mi – kết mạc do tụ cầu.
* Có thể thấy phản ứng nhú gai mạn tính của kết mạc sụn mi dưới, cương tụ kết mạc mi và kết mạc nhãn cầu.
* Nhiều dạng viêm giác mạc có thể xảy ra kèm viêm mi – kết mạc do tụ cầu như:
+ Tróc biểu mô dạng chấm.
+ Thâm nhiễm vùng rìa.
+ Viêm kết - giác mạc mụn bọng.
Nhiều khi do dụi mắt nhiều làm trợt da mi, bội nhiễm có mủ.
Điều trị: Nhằm làm giảm và loại trừ tụ cầu ở mi và kết mạc.
- Vệ sinh: Cọ sạch vẩy bờ mi, massage bờ mi, bôi mỡ kháng sinh, Bacitracin, Erythomycin.
- Những trường hợp dai dẳng phải dùng kháng sinh toàn thân: Uống Tetracyclin, Doxycyclin, Erythromycin…. Thuốc Minocyclin giết vi khuẩn và ức chế men tiêu lipid của vi khuẩn được đánh giá là có tác dụng tốt trong điều trị viêm bờ mi do tụ cầu.
1.3.2 Viêm bờ mi tăng tiết bã nhờn (seborrheic blepharitis).
- Có thể đơn độc.
- Có thể phối hợp với viêm bờ mi do tụ cầu vì nhiều khi bã làm tắc tuyến.
Tụ cầu rất ưa những nơi có nang lông, nhiều tuyến bã nên dễ gây viêm, có thể thành nhọt (viêm nang lông sâu).
- Viêm chủ yếu khu trú ở bờ mi phía trước:
Triệu chứng: Nóng, rát, ngứa, sợ ánh sáng, nặng mi, đôi khi có cảm giác dị vật. Thường kèm tăng tiết bã nhờn ở da đầu, trán, vùng mặt, tai hoặc vùng xương ức.
Dạng khô gồm: Viêm mi, vảy gầu khô ở mi.
Dạng ướt: Gồm tiết nhờn và lắng đọng chất mỡ nhờn ở lông mi, những chất này có thể khô đi tạo thành vảy.
+ Thường kèm viêm da bã nhờn.
+ 15% có viêm kết mạc hoặc viêm giác mạc phối hợp. Viêm giác mạc đặc trưng bằng tróc biểu mô dạng chấm ở 1/3 dưới giác mạc, khoảng 1/3 bệnh nhân có khô mắt.
Pityrosporum Ovale và Orbiculare là những bào tử nấm men có rất nhiều ở những vảy gầu, nhưng giá trị của chúng vẫn đang được bàn cãi.
Điều trị: Vệ sinh mi, cọ sạch vảy với xà phòng trung tính, massage bờ mi.
Nếu có tắc tuyến, cần nặn tuyến, dùng kháng sinh…
Đây là bệnh mãn tính, điều trị rất nan giải.
Thể vừa nhẹ có thể đáp ứng với vệ sinh mi
1.3.3. Loạn năng tuyến Meibomius.
Tuyến Meibomius là những tuyến hình ống, tiết ra chất bã nhờn với thành phần chính gồm Sterol ester, ester sáp và một phần ít hơn là Triglyceride.
Những biến đổi ban đầu trong loạn năng tuyến Meibomius là sừng hoá biểu mô ống tuyến và lỗ tuyến dẫn tới tắc tuyến. Tuyến bị giãn, biến đổi thành phần lipid của chất tiết. Các vi khuẩn như: P.acnes, Staphylococcus… tiết ra men hủy lipid, làm biến đổi các acid béo, gây mất ổn định màng film nước mắt.
Triệu chứng: Đau, rát, cảm giác dị vật, đỏ mi và kết mạc, nhìn lờ mờ và chắp tái phát. Trong bệnh này, viêm chủ yếu giới hạn ở bờ mi phía sau, kết mạc và giác mạc mặc dù đôi khi bệnh nhân có thể có những biểu hiện tăng tiết bã nhờn ở phía trước bờ mi.
* Bờ mi phía sau thường không đều và có hình “vết bút lông” do các mạch máu nổi lên và đi từ phía sau đến phía trước bờ mi.
* Các lỗ tuyến Meibomius có thể giãn ra hoặc biểu hiện dị sản với một nút Protein sừng màu trắng lan rộng qua lỗ tuyến.
* Có thể có bọt ở liềm nước mắt dọc theo mi dưới.
* Thường bị mất ổn định màng nước mắt, giảm thời gian phá vỡ màng film nước mắt (BUT).
* Viêm kết mạc, tróc biểu mô giác mạc dạng chấm.
* Trong 60% các trường hợp loạn năng tuyến Meibomius, có thể thấy một hoặc nhiều biểu hiện của bệnh trứng cá đỏ ở mặt bao gồm: Giãn mao mạch, ban đỏ dai dẳng, sần, mụn mủ, phì đại tuyến bã nhờn và mũi sư tử.
Điều trị:
+ Chườm nóng mi và cọ sạch bờ mi bằng dầu gội đầu dịu để làm sạch lipid và chất viêm.
+ Uống kháng sinh nhóm cyclin như Tetracyclin 250mg x 4 lần/ngày hoặc Doxycyclin 100mg/ngày trong 4 tuần.
+ Có thể phải dùng Corticosteroid tra mắt ít ngày trong những trường hợp viêm vừa đến viêm nặng.
1.3.4 Viêm bờ mi do Demodex (Demodicosis).
Demodex folliculorum là một loài côn trùng sống ở chân lông mũi và mi, chui vào nang lông đẻ trứng.
Khám trên sinh hiển vi thấy viêm bờ mi phía trước, các vẩy ở bờ mi giống như một ống bao quanh chân lông mi. Nhổ lông mi soi trên phiến kính có thể thấy Demodex bám ở chân lông mi.
Điều trị: Cọ chải vệ sinh bờ mi, nhổ bỏ bớt những lông mi đã có vảy vì trong vảy có trứng của Demodex. Tra thuốc mỡ kháng sinh Bacitracin, Erythromycin hoặc Sulfacetamid.
1.3.5. Viêm bờ mi do rận bẹn (Phthiriasis).
Rận bẹn Phthirus pubis thường thấy ở lông bộ phận sinh dục, tuy nhiên chúng có thể di cư đến râu, lông mày, lông mi. Bệnh lây do tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân hoặc qua đồ dùng cá nhân (khăn mặt, đồ vải).
Khám lâm sàng thấy có viêm mi, kết mạc. Soi đèn khe thấy rận hút máu vùng chân lông mi và nhiều trứng bám trên lông mi.
Điều trị: Hớt hết lông mi để loại bỏ trứng rận, vệ sinh bờ mi, lau bờ mi bằng dầu gội đầu có chứa Benzene hexachloride 1% và bôi mỡ Oxyt thuỷ ngân 1% trong 14 ngày.
2. Chắp.
3.2.1. Định nghĩa.
Chắp là một loại viêm khu trú của mi mắt, thường sinh ra từ bên trong hoặc xung quanh tuyến Meibomius. Về mặt mô bệnh học, đó là những tổn thương u hạt – mỡ mạn tính.
2.2. Lâm sàng.
Chắp biểu hiện bằng một nốt dưới da mi trên hoặc mi dưới, ít đau hoặc không đau, nằm sâu trong mi, có thể nắn thấy trong bề dày của mi.
Biểu bì viêm vừa phải trừ trường hợp bội nhiễm hoặc dò chắp, ngược lại, khi lộn mi thấy kết mạc sụn đỏ.
Chắp có thể có nhiều hình thái tuỳ theo vị trí mọc:
- Chắp ngoài: Nốt hình bán cầu chắc, không đau, nổi lên dưới da.
- Chắp trong: Nốt đau hơn, thấy rõ khi lộn mi.
- Chắp ở bờ tự do: Cục hình nón nhô lên ở kết mạc bờ tự do của mi.
- Viêm sụn tuyến Meibomius: Là sự hợp nhất của nhiều chắp.
Trước mọi trường hợp chắp, cần tìm kiếm bệnh đái tháo đường. Chắp thường phối hợp với viêm mi hoặc viêm mi – kết mạc cần được điều trị.
2.3. Tiến triển.
- Thoái triển ở người trẻ nhưng có nguy cơ tái phát nhiều lần.
- Không tiến triển khi u hạt đã nang hoá.
- Đôi khi biến chứng với phản ứng viêm, viêm kết mạc phản ứng, dò qua da hoặc kết mạc, u hạt trên mặt chắp trong, bội nhiễm trong trường hợp đè ép vào lệ quản dưới…
2.4. Điều trị.
* Trong giai đoạn viêm cấp tính điều trị bao gồm:
- Chườm nóng 15 – 20 phút, 4 lần/ngày.
+ Vệ sinh mi mắt, day ấn và ép cho chất viêm của tuyến Meibomius thoát ra.
+ Dùng kháng sinh, chống viêm toàn thân và tại chỗ.
* Điều trị như trên sau 2 – 4 tuần mà chắp không khỏi, cần phải rạch và nạo bỏ chắp để giúp cho nang chắp tiêu đi.
+ Nếu viêm mạnh nhất ở mặt sau mi: Rạch qua kết mạc và sụn để dẫn lưu chắp.
+ Nếu viêm mạnh nhất ở mặt trước: Rạch qua da và cơ vòng cung mi để lấy kết mô u hạt.
* Trong một số trường hợp, nhất là khi chắp ở kề bên lệ đạo, có thể tiêm Steroid vào trong tổn thương (0,2ml Triamcinolon 10mg/ml). Việc tiêm Steroid tại chỗ có thể gây bạc màu da ở phía trên và không hiệu quả bằng rạch và nạo tổn thương.
3. Lẹo.
3.1. Định nghĩa.
Lẹo là một nhiễm trùng cấp tính của tuyến bờ mi.
3.2. Lâm sàng.
Lúc đầu có cảm giác nóng ở bờ mi kèm theo đau khi sờ nắn ngoài da.
Lẹo là một nhọt bao quanh một nang lông nên đau nhức, rất nhạy cảm khi nắn tay. Đôi khi lẹo bị che lấp bởi phù mi nhưng luôn luôn có đau khi ấn chính xác vào bờ tự do của mi, Thường sau 4 – 6 ngày, mủ vỡ ra và các triệu chứng tại chỗ giảm đi, tiến triển dẫn tới rụng lông mi.
3.3. Điều trị.
Điều trị thích hợp là chườm nóng và kháng sinh tại chỗ. Chích rạch và nạo sạch ổ khi lẹo đã hoá mủ. Châm cứu huyệt phế du cũng là cách làm tốt để góp phần thúc đẩy quá trình tiêu viêm, khu trú ổ mủ./

Người đăng: Tăng Hòa
Đọc tiếp →

Viêm nhiễm bờ mi mắt, điều trị thế nào?

Viêm nhiễm bờ mi gồm nhiều tổn thương cấp tính và mạn tính. Đây là một bệnh thường gặp, gây nhiều khó chịu cho bệnh nhân, việc điều trị có khi rất dai dẳng vì xác định nguyên nhân khó hoặc viêm do nhiều nguyên nhân phối hợp.

Viêm mi do tụ cầu: Đây là loại viêm bờ mi hay gặp nhất, nhiễm Staphylococcus aureus ở mi mắt gây viêm mi, kết mạc và giác mạc. Gặp ở nữ giới (80%) và những người trẻ. Bệnh nhân thấy cảm giác nóng, ngứa và rát da, đặc biệt vào buổi sáng, hai mi mắt dính vào nhau. Viêm ở phần trước mi, viêm bờ mi vùng góc mắt (angular blepharitis) với đặc điểm đỏ, ướt, nứt nẻ và đóng vảy ở góc ngoài, góc trong hoặc cả hai góc mắt (toét mắt) thường kèm viêm kết mạc nhú gai, đôi khi có tiết tố nhày mủ và tiết tố dính. Có loét và xuất huyết bờ mi.

Viêm mạn tính điển hình: có những vảy cứng, giòn ở gốc lông mi, bằng mắt thường đôi khi chỉ thấy những vảy trắng. Khám bờ mi bằng sinh hiển vi thấy vảy cứng bao quanh mỗi lông mi. Khi những vảy này bao quanh lông mi, chúng trông như cổ áo hay cái dù (vảy như một đĩa tròn, lông mi xuyên qua như một cái ô). Bờ mi khô dày, đỏ, lông mi có thể bết lại với nhau thành từng búi. Lông mi thường bạc, ngắn, gãy, rụng lông và mọc lệch hướng. Có thể có quặm hoặc mất lông mi do tổn thương nang lông. Bạc từng lông mi riêng rẽ do tổn thương gốc lông bởi tụ cầu.
Chắp: chắp ngoài là một áp-xe của tuyến Zeiss ở phía trước mi có sưng, đỏ, đau; Chắp trong là nhiễm khuẩn trong tuyến Meibomius ở phần sau mi, gây đau, nó có thể vỡ ra ngoài da hoặc vào trong kết mạc. Khô mắt gặp ở 50% bệnh nhân viêm mi kết mạc do tụ cầu. Có thể thấy phản ứng nhú gai mạn tính của kết mạc sụn mi dưới, cương tụ kết mạc mi và kết mạc nhãn cầu. Nhiều dạng viêm giác mạc xảy ra kèm viêm mi kết mạc như: tróc biểu mô dạng chấm; thâm nhiễm vùng rìa; viêm kết giác mạc mụn bọng. Nhiều khi do dụi mắt nhiều làm trợt da mi, bội nhiễm có mủ.

Điều trị loại trừ tụ cầu ở mi và kết mạc. Vệ sinh sạch vảy bờ mi, massage bờ mi, bôi mỡ kháng sinh như bacitracin, erythromycin. Những trường hợp dai dẳng phải dùng kháng sinh toàn thân như tetracyclin, doxycyclin, erythromycin...

Viêm bờ mi tăng tiết bã nhờn (seborrheic blepharitis). Có thể đơn độc hoặc phối hợp với viêm bờ mi do tụ cầu vì nhiều khi bã làm tắc tuyến. Tụ cầu rất ưa những nơi có nang lông, nhiều tuyến bã nên dễ gây viêm, có thể thành nhọt viêm nang lông sâu. Viêm chủ yếu ở bờ mi phía trước với triệu chứng: nóng, rát, ngứa, sợ ánh sáng, nặng mi, đôi khi có cảm giác dị vật. Viêm mi, vảy gầu khô ở mi, dạng ướt tiết nhờn và lắng đọng chất mỡ nhờn ở lông mi, những chất này có thể khô đi tạo thành vảy. Ở 15% bệnh nhân có viêm kết mạc hoặc viêm giác mạc phối hợp. Viêm giác mạc đặc trưng bằng tróc biểu mô dạng chấm ở 1/3 dưới giác mạc, khoảng 30% bệnh nhân có khô mắt. Đây là bệnh mạn tính, điều trị rất nan giải, song thể nhẹ có thể khỏi bởi vệ sinh mi.

Loạn năng tuyến Meibomius: Tuyến Meibomius tiết ra chất bã nhờn. Những biến đổi ban đầu trong loạn năng tuyến Meibomius là sừng hoá biểu mô ống tuyến và lỗ tuyến dẫn tới tắc tuyến. Tuyến bị giãn, biến đổi thành phần lipid của chất tiết. Các vi khuẩn tiết ra men hủy lipid, làm biến đổi các acid béo, gây mất ổn định màng phim nước mắt. Bệnh nhân bị đau, rát, cảm giác dị vật, đỏ mi và kết mạc, nhìn lờ mờ và chắp tái phát. Viêm chủ yếu giới hạn ở bờ mi phía sau, kết mạc và giác mạc. Bờ mi phía sau thường không đều và có hình "vết bút lông" do các mạch máu nổi lên và đi từ phía sau đến phía trước bờ mi. Các lỗ tuyến Meibomius có thể giãn ra hoặc dị sản với một nút protein sừng màu trắng lan rộng qua lỗ tuyến. Có khi có bọt ở liềm nước mắt dọc theo mi dưới.

Điều trị chườm nóng mi và rửa sạch bờ mi. Uống kháng sinh tetracyclin hoặc doxycyclin trong 4 tuần. Dùng corticosteroid tra mắt ít ngày trong những trường hợp viêm vừa đến viêm nặng.

YHTH
Theo SK&ĐS

Đọc tiếp →

Các viêm nhiễm tại mi mắt

Mi mắt là bộ phận che chắn và bảo vệ nhãn cầu nên luôn bị các tác nhân gây bệnh tấn công dữ dội. Vì vậy, các bệnh nhiễm trùng và viêm tại chỗ của mi mắt cũng thật đa dạng, từ chắp, lẹo đến viêm bờ mi.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Tỷ lệ viêm bờ mi khá cao nhưng thường bị bỏ qua vì không gây mù lòa, không gây chết người. Thế nhưng, những khó chịu mà bệnh này gây ra, lượng thuốc men mà người bệnh phải hao tốn lại không hề nhỏ. Nhiều người còn tự mua thuốc hoặc mách bảo nhau dùng những thuốc có chứa cortizol kéo dài. Triệu chứng bệnh thì có giảm nhưng những hệ lụy mà nó đem lại thật nguy hiểm khôn lường: bội nhiễm nấm, vi khuẩn, glaucoma do dùng cortizol kéo dài, đục thủy tinh thể...

Nguyên nhân

Có rất nhiều yếu tố gây viêm mi như vệ sinh kém, bội nhiễm các vi khuẩn gây bệnh trong vật dụng hằng ngày (khăn mùi xoa chẳng hạn); bụi, ô nhiễm, sử dụng máy điều hòa, chứng khô mắt, đái tháo đường, vảy nến. Chính thầy thuốc cũng có thể góp phần gây viêm bờ mi cho bệnh nhân khi dùng các nội tiết tố như oestrogen, androgen hay điều trị tia xạ kéo dài.

Thủ phạm gây viêm bờ mi thường là tụ cầu, nấm hay demodex. Viêm mi do tụ cầu thường gây chắp hay hay lẹo, loét trợt bờ mi, nặng hơn có thể gây viêm giác mạc ở 1/3 dưới.

Các loại viêm bờ mi

Các nhà khoa học Anh, Mỹ chia các bệnh viêm nhiễm tại mi làm 4 nhóm chính: lẹo, chắp, viêm phần trước mi (viêm bờ mi), viêm phần sau mi (viêm và loạn năng tuyến Meibomius).

Viêm bờ mi

Bệnh nhân thường than phiền về cảm giác nóng rát trong mắt, cộm như có cát ở trong mắt, chảy nước mắt, đau mức độ trung bình tại mắt và mi, đôi khi bệnh nhân cảm giác nhìn mờ, nhất là vào buổi sáng.

Khi thăm khám lâm sàng, thấy bờ mi đỏ, quanh chân lông mi có nhiều chất bẩn và vảy tiết, kèm theo đó là tình trạng giãn mao mạch dọc theo phần trước của bờ tự do. Các lỗ ra của tuyến giãn rộng và nhiều chất bã nhờn. Cũng có thể có tình trạng bã tiết các chất bọt. Thường thì viêm bờ mi sẽ đi kèm với viêm kết mạc, gọi là viêm bờ mi-kết mạc.

Bệnh viêm mi tăng tiết bã nhờn

Chính tên bệnh đã phản ánh bản chất của nó. Thường là bệnh thứ phát trên cơ địa viêm da tăng tiết bã nhờn. Các tổn thương tại da: Ban đỏ, đóng vảy ở chân tóc và vùng mặt, thường có trước những tổn thương tại mi. Các yếu tố thuận lợi cho bệnh phát triển là khí hậu lạnh, nghiện rượu, bệnh lý thần kinh, tình trạng stress hay AIDS. Tiến triển của viêm mi thường song song với tình trạng tổn thương ở da (thoái triển hoặc kịch phát).

Bệnh trứng cá đỏ

Trứng cá đỏ gây phiền toái cho khoảng 10% dân số thế giới, trong đó 50% có biểu hiện tại mắt. Các yếu tố khơi mào cho bệnh phát triển có thể là nhiệt độ bất thường (quá nóng hoặc quá lạnh), da sáng màu, ăn nhiều gia vị hoặc các chất cay, nóng, bia, rượu, thuốc lá…

Những biểu hiện của bệnh trứng cá đỏ rất đa dạng: viêm mi, phình giãn mao mạch ở bờ mi, đa chắp tái phát, kết mạc cương tụ, viêm thượng củng mạc, tân mạch giác mạc, mụn nước và loét bờ mi. Trứng cá đỏ thường đi kèm với loạn năng tuyến Meibomius.

Viêm mi do loạn năng tuyến Meibomius

Tuyến Meibomius là một tuyến ngoại tiết mà các lỗ mở ra bờ tự do của mi, phía sau các chân lông mi. Chức năng của nó tạo ra lớp lipid của phim nước mắt, lớp này có tác dụng chống bay hơi cho phim nước mắt và quyết định chất lượng của phim nước mắt.

Viêm, nhiễm trùng, quá mẫn cảm là những yếu tố có thể thay đổi chất lượng của phim nước mắt và cũng là nguyên nhân viêm bờ mi.

Biến chứng

Hậu quả chủ yếu của viêm bờ mi là cảm giác khô rát mắt. Nguyên nhân là nước mắt bị bay hơi quá nhanh do lớp mỡ của phim nước mắt có chất lượng kém - một hệ quả tất yếu của loạn năng tuyến Meibomius.

Viêm bờ mi có xu hướng mạn tính và kèm theo nó là các biến chứng tiềm tàng và khó tránh khỏi.

Điều trị

Việc điều trị giúp kiểm soát tình hình chứ gần như không thể làm khỏi bệnh hoàn toàn được.

Phương pháp điều trị bao gồm: Vệ sinh cá nhân, chủ yếu là rửa tay, dùng khăn lau loại một lần, massage nhiều lần trong ngày lên bờ mi có dùng găng tay và gạc chườm nóng hoặc dùng gel đặc trị đánh lên bờ mi bằng tăm bông. Các biện pháp trên chủ yếu để dẫn lưu tuyến Meibomius.

Điều trị bằng kháng sinh tại chỗ hoặc đường toàn thân đôi khi rất hữu ích. Các kháng sinh được khuyên dùng thuộc nhóm tetracycline và oxytetracycline như mỡ tetracycline, mỡ posicycline và nhóm sunfamide như bacitracine.

Theo Sức khỏe và Đời sống
Đọc tiếp →

Các viêm nhiễm tại mi mắt

Mi mắt là bộ phận che chắn và bảo vệ nhãn cầu, nhưng lại bị các tác nhân gây bệnh tấn công dữ dội. Vì vậy, các bệnh nhiễm trùng và viêm tại chỗ của mi mắt cũng thật đa dạng, từ chắp, lẹo đến viêm bờ mi.

Tỷ lệ viêm bờ mi khá cao nhưng thường bị bỏ qua vì không gây mù lòa, không gây chết người. Thế nhưng, những khó chịu mà bệnh này gây ra, lượng thuốc men mà người bệnh phải hao tốn lại không hề nhỏ. Nhiều người còn tự mua thuốc hoặc mách bảo nhau dùng những thuốc có chứa cortizol kéo dài. Triệu chứng bệnh thì có giảm nhưng những hệ lụy mà nó đem lại thật nguy hiểm khôn lường: bội nhiễm nấm, vi khuẩn, glaucoma do dùng cortizol kéo dài, đục thủy tinh thể...

Các nhà khoa học Anh, Mỹ chia các bệnh viêm nhiễm tại mi làm 4 nhóm chính: lẹo, chắp, viêm phần trước mi (viêm bờ mi), viêm phần sau mi (viêm và loạn năng tuyến Meibomius).

Có rất nhiều yếu tố gây viêm mi như vệ sinh kém, bội nhiễm các vi khuẩn gây bệnh trong vật dụng hằng ngày (khăn mùi xoa chẳng hạn); bụi, ô nhiễm, sử dụng máy điều hòa, chứng khô mắt, đái tháo đường, vảy nến. Chính thầy thuốc cũng có thể góp phần gây viêm bờ mi cho bệnh nhân khi dùng các nội tiết tố như oestrogen, androgen hay điều trị tia xạ kéo dài.

Thủ phạm gây viêm bờ mi thường là tụ cầu, nấm hay demodex. Viêm mi do tụ cầu thường gây chắp hay hay lẹo, loét trợt bờ mi, nặng hơn có thể gây viêm giác mạc ở 1/3 dưới.

Viêm bờ mi

Bệnh nhân thường than phiền về cảm giác nóng rát trong mắt, cộm như có cát ở trong mắt, chảy nước mắt, đau mức độ trung bình tại mắt và mi, đôi khi bệnh nhân cảm giác nhìn mờ, nhất là vào buổi sáng. Khi thăm khám lâm sàng, thấy bờ mi đỏ, quanh chân lông mi có nhiều chất bẩn và vảy tiết, kèm theo đó là tình trạng giãn mao mạch dọc theo phần trước của bờ tự do. Các lỗ ra của tuyến giãn rộng và nhiều chất bã nhờn. Cũng có thể có tình trạng bã tiết các chất bọt.

Thường thì viêm bờ mi sẽ đi kèm với viêm kết mạc, gọi là viêm bờ mi-kết mạc.

Bệnh viêm mi tăng tiết bã nhờn: Chính tên bệnh đã phản ánh bản chất của nó. Thường là bệnh thứ phát trên cơ địa viêm da tăng tiết bã nhờn. Các tổn thương tại da: Ban đỏ, đóng vảy ở chân tóc và vùng mặt, thường có trước những tổn thương tại mi. Các yếu tố thuận lợi cho bệnh phát triển là khí hậu lạnh, nghiện rượu, bệnh lý thần kinh, tình trạng stress hay AIDS. Tiến triển của viêm mi thường song song với tình trạng tổn thương ở da (thoái triển hoặc kịch phát).

Bệnh trứng cá đỏ: Trứng cá đỏ gây phiền toái cho khoảng 10% dân số thế giới, trong đó 50% có biểu hiện tại mắt. Các yếu tố khơi mào cho bệnh phát triển có thể là nhiệt độ bất thường (quá nóng hoặc quá lạnh), da sáng màu, ăn nhiều gia vị hoặc các chất cay, nóng, bia, rượu, thuốc lá… Những biểu hiện của bệnh trứng cá đỏ rất đa dạng: viêm mi, phình giãn mao mạch ở bờ mi, đa chắp tái phát, kết mạc cương tụ, viêm thượng củng mạc, tân mạch giác mạc, mụn nước và loét bờ mi. Trứng cá đỏ thường đi kèm với loạn năng tuyến Meibomius.

Viêm mi do loạn năng tuyến Meibomius: Tuyến Meibomius là một tuyến ngoại tiết mà các lỗ mở ra bờ tự do của mi, phía sau các chân lông mi. Chức năng của nó tạo ra lớp lipid của phim nước mắt, lớp này có tác dụng chống bay hơi cho phim nước mắt và quyết định chất lượng của phim nước mắt. Viêm, nhiễm trùng, quá mẫn cảm là những yếu tố có thể thay đổi chất lượng của phim nước mắt và cũng là nguyên nhân viêm bờ mi.

Hậu quả chủ yếu của viêm bờ mi là cảm giác khô rát mắt. Nguyên nhân là nước mắt bị bay hơi quá nhanh do lớp mỡ của phim nước mắt có chất lượng kém - một hệ quả tất yếu của loạn năng tuyến Meibomius.

Viêm bờ mi có xu hướng mạn tính và kèm theo nó là các biến chứng tiềm tàng và khó tránh khỏi. Việc điều trị giúp kiểm soát tình hình chứ gần như không thể làm khỏi bệnh hoàn toàn được. Phương pháp điều trị bao gồm: Vệ sinh cá nhân, chủ yếu là rửa tay, dùng khăn lau loại một lần, massage nhiều lần trong ngày lên bờ mi có dùng găng tay và gạc chườm nóng hoặc dùng gel đặc trị đánh lên bờ mi bằng tăm bông. Các biện pháp trên chủ yếu để dẫn lưu tuyến Meibomius.

Điều trị bằng kháng sinh tại chỗ hoặc đường toàn thân đôi khi rất hữu ích. Các kháng sinh được khuyên dùng thuộc nhóm tetracycline và oxytetracycline như mỡ tetracycline, mỡ posicycline và nhóm sunfamide như bacitracine.

Bệnh chắp

Đó là một khối u lành tính trên mi. Chắp chính là vùng sưng phồng xuất hiện ngay trên vùng bị tắc nghẽn các ống tuyến Meibomius. Trên lâm sàng, chắp biểu hiện như một khối tròn nhỏ, sưng đỏ. Vị trí thường ở ngay sát bờ tự do của mi. Chắp có 3 hình thái lâm sàng: Ở phía trong, ở phía ngoài và ngay trên bờ tự do. Tiến triển của chắp có thể theo nhiều hình thức: Nang hóa, gây khó chịu cho mắt và buộc phải chích tháo mủ; hóa mủ và ápxe hóa; tự vỡ mủ hoặc rò mủ ra ngoài da; tự khỏi.

Dù là tiến trình nào thì chắp cũng có thể tái phát. Điều trị thường là chườm nóng, dùng kháng sinh kết hợp với corticoide tại chỗ trong 7 ngày. Có tới 50% các trường hợp phải giải quyết bằng thủ thuật ngoại khoa, khi chắp đã ở giai đoạn “nguội” - ngoài giai đoạn viêm cấp.

Bệnh lẹo

Đó là hiện tượng viêm cấp của tuyến bã quanh chân lông mi, nguyên nhân thường do tụ cầu. Ban đầu chỉ là phù mi rồi xuất hiện một ổ sưng, đỏ, đau khi chạm vào. Sau vài ngày, cảm giác đau sẽ trở thành nhức buốt kèm theo sự hóa mủ vàng tại chân lông mi. Những khó chịu này sẽ biến mất nếu lẹo vỡ mủ và thoát ra ngoài cùng với lông mi. Điều trị thường bằng chườm nóng, mỡ kháng sinh có phối hợp với corticoide trong 48 giờ đầu. Sau đó chích tháo mủ sẽ được xem xét. Những trường hợp nặng có phù nề mạnh, phản ứng viêm hạch lân cận thì bắt buộc phải dùng kháng sinh đường uống. Để đề phòng lẹo thì chỉ có một cách là vệ sinh bờ mi thật tốt.

Theo Sức khỏe & đời sống

Đọc tiếp →

Viêm bờ mí mắt

Mi mắt là bộ phận che chắn và bảo vệ nhãn cầu, thế nhưng bản thân chúng lại bị các tác nhân gây bệnh tấn công dữ dội. Vì vậy, các bệnh nhiễm khuẩn và viêm tại chỗ của mi mắt cũng thật đa dạng.

Khám và điều trị mắt miễn phí ở Tiền Giang. Ảnh: V. Bắc

Viêm mí mắt là tình trạng viêm mạn tính của bờ mi, thường do vi trùng gây ra, tuy không nghiêm trọng nhưng nếu không chú ý có thể gây viêm tấy, sưng đỏ, rất khó chịu.

Biểu hiện của viêm mí là tất cả những viêm nhiễm có liên quan đến mi. Người ta phân biệt hình thái của viêm mi: mạn tính lan toả hay viêm mi mạn tính khu trú gọi là chắp và lẹo. Những dấu hiệu của viêm mi mạn tính: Bệnh nhân thường có cảm giác nóng rát trong mắt, cộm như có cát ở trong mắt, chảy nước mắt, đau mức độ trung bình tại mắt và mi, đôi khi bệnh nhân cảm giác nhìn mờ, nhất là vào buổi sáng.

Thường những người da nhờn, nhiều gàu hay mắt khô thì hay mắc phải và nhiều trường hợp là biến chứng của một số bệnh như đau mắt hột. Bất cứ ai bị nhiễm khuẩn ở ngoài da và nhất là những người bị nhiễm khuẩn ở chân lông mi, nếu lượng khuẩn lớn tụ ở quanh chân lông mi có thể gây gàu giống như vảy dọc theo chân lông mi và bờ mí. Viêm bờ mí cũng thường phối hợp với tuyến nhờn ở mí nằm ở chân lông mi (được gọi là tuyến Meibomian).

Khi bị viêm bờ mí thì cả mí trên và mí dưới được phủ bởi những phần tử có dầu và vi khuẩn bám ở gần chân lông mi, gây kích thích mắt, ngứa mắt, đỏ mắt và có cảm giác như phỏng.

Về điều trị:

Xử lý viêm mí mắt không quá phức tạp nhưng cần chú ý đề phòng bệnh tái phát. Có thể bắt đầu bằng việc vệ sinh mắt mỗi ngày với nước ấm, kết hợp với dùng thuốc kháng sinh theo chỉ định của bác sĩ.

- Đắp gạc nóng lên mắt: Lấy gạc sạch nhúng vào nước nóng, đắp vào mắt khi nhắm mắt ít nhất 1 phút, làm 2 - 3 lần/ngày. Khi gạc nguội thì nhúng nóng lại, khi đắp gạc nóng như vậy sẽ làm tróc những gàu vảy và cặn bã bám quanh lông mi và làm loãng những tiết chất có dầu ở tuyến nhờn, do đó tránh được viêm tuyến sinh lẹo hay chắp ở mắt.

- Chà mí: Dùng miếng gạc sạch hay que bông thấm nước nóng chà nhẹ trên hàng lông mi khoảng 15 giây cho mỗi mí.

-Tra thuốc mỡ kháng sinh: Tra thuốc mỡ kháng sinh như Formmade Tetracycline, Erytromycine vào bờ mí trước khi đi ngủ. Các loại nước mắt nhân tạo (có bán ở các tiệm thuốc tây) và các loại thuốc nhỏ Steroid có thể được dùng để làm giảm khô mắt hay giảm viêm vì viêm bờ mí thường hay làm tắc tuyến nhầy nên gây khô mắt và viêm. Do vậy, khi dùng thuốc phải có sự chỉ định của bác sĩ.

- Giữ vệ sinh tốt: Vì viêm bờ mí có thể là một bệnh kinh niên nên cần phải giữ vệ sinh mắt cho tốt để tránh bệnh tái phát. Ngoài ra cũng phải giữ lông mi cho sạch, cũng như tóc và lông mày bằng cách rửa với xà bông gội chống khuẩn để tránh viêm bờ mí.

Cách vệ sinh mắt: Rửa tay thật sạch, đắp gạc nóng trên mí mắt trong 5 phút. Kế tiếp, dùng miếng tăm bông, khăn mềm hay miếng vải nhỏ nhúng vào nước muối ấm hay xà phòng nhẹ (như xà phòng trẻ em của Johnson) rồi lau nhẹ nhàng quanh bờ mí. Sau đó rửa lại bằng nước sạch. Dùng một miếng gạc khác và đắp lại các bước như trên.

Đọc tiếp →

9 tháng 4, 2011

Bệnh viêm mí mắt

Viêm mí mắt là một dạng viêm nhiễm ở mí mắt và các vùng quanh mí. Nó có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào và không thể nhầm với bệnh viêm kết mạc (mắt đỏ và có màng trắng).

Bệnh viêm mí mắt là gì?

Có 2 dạng viêm mí mắt: viêm phần trước mi (viêm bờ mi), viêm phần sau mi (viêm và loạn năng tuyến Meibomius).

Viêm phần trước mi xuất hiện ở vùng phía trước mí mắt gây ra do vi khuẩn staphylococcal hay 1 loại gầu của lông mày và da đầu thường không gây dị ứng.

Viêm phần sau mi xuất hiện phía trong mí mắt gần nhãn cầu, do lượng dầu tiết ra không đủ khiến vi khuẩn phát triển. Viêm mí mắt trong thường đi kèm với chứng viêm da và gầu ở da đầu.

Có nhiều nguyên nhân gây nên viêm mí mắt như do nhiễm virút, độc tố, dị ứng hay rối loạn tuyến mi mắt.

Triệu chứng của viêm mí mắt

Phát hiện ra triệu chứng của viêm mí mắt để kịp thời điều trị là rất quan trọng. Viêm mí mắt thường có những triệu chứng cơ bản sau:

Mí mắt sưng đỏ, ngứa với việc xuất hiện các vảy cứng ở vùng mi mắt và lông mi khiến có cảm giác như có cát trong mắt, chảy nước mắt.

Mắt hay chảy nước, nhìn mờ.

Điều trị chứng viêm mí mắt?

Theo Hiệp Hội Thị Lực Mỹ, viêm mí mắt là bệnh không lây truyền, không gây mù và hỏng mắt nếu được điều trị đúng và kịp thời bởi bác sĩ chuyên khoa.

Viêm mí mắt trái nếu không được điều trị có thể gây rụng lông mi, làm dày mí mắt, mao dẫn giãn nở và làm mòn tầng dưới của giác mạc.

Tuy nhiên viêm mí mắt khó điều trị khỏi hẳn vì bệnh có thể trở lại nếu vệ sinh vùng mắt kém. Những cách chăm sóc và giữ vệ sinh mắt sau là rất cần thiết:

- Vệ sinh mắt đúng cách: Với bệnh viêm mí mắt, việc giữ vệ sinh mắt và vùng quanh mắt sạch là yếu tố quan trọng.

- Đắp gạc ấm: Đắp gạc ấm lên vùng mắt để giảm vảy đóng ở vùng mắt.

- Rửa nhẹ: Tuỳ thuộc vào hướng dẫn của bác sĩ, nên rửa vùng mi mắt nhẹ nhàng với nước muối ấm pha loãng hay bằng dầu tắm của trẻ em.

- Tiếp tục chăm sóc mắt: Chế độ làm sạch mắt nên được lặp lại 4 lần mỗi ngày để giữ vệ sinh mắt, thúc đẩy vùng mí mắt mau lành. Với những người bị gầu nên sử dụng dầu gội trị gầu để giảm ảnh hưởng đến bệnh. Những người bị viêm mí mắt trước nên massage vùng mí mắt để loại bỏ dầu thừa của tuyến mắt.

- Tránh làm nhiễm bệnh: Nên giữ vệ sinh mắt để tránh việc lây truyền các vi khuẩn làm bệnh trầm trọng hơn.

- Nhỏ thuốc nhỏ mắt: Nên tra thuốc nhỏ mắt hay thuốc mỡ chống khuẩn nếu để giảm vi khuẩn có hại vùng mắt.

Ngừa bệnh viêm mí mắt?

Bệnh viêm mí mắt và các bệnh về mắt khác có thể được ngăn ngừa bằng việc luôn giữ sạch mặt và tay, không dụi tay hoặc khoăn giấy bẩn vào mắt vì vi khuẩn có thể dễ dàng lây sang mắt gây nên các bệnh về mắt.

Với phụ nữ nên tẩy trang vùng mắt kỹ càng trước khi đi ngủ, để mascara qua đêm có thể làm tấy vùng mi mắt, gây sưng tấy và viêm mắt.

Nếu thấy bất kỳ triệu chứng khó chịu nào ở mắt nên đi khám bác sĩ chuyên khoa giúp xác định kịp thời nguyên nhân gây bệnh để điều trị sớm nhất có thể.

Quỳnh Liên

Theo SK
(dantri.com)
Đọc tiếp →